Các bài nổi bậtĐông Nam Á

Khai thác Môi trường và Đánh lừa Dư luận

Trung Quốc đang Xuất khẩu nạn Hủy hoại Môi trường ra Toàn cầu Như thế nào

0 0 đánh giá
Article Rating

Nhân viên DIỄN ĐÀN

Bắc Kinh ngày càng tìm cách xây dựng hình ảnh là một nhà lãnh đạo toàn cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cung cấp năng lượng sạch và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, ẩn sau chiến dịch tuyên truyền đó là một thực tế đáng lo ngại: Trung Quốc đang xuất khẩu nhiều hoạt động gây hại môi trường nghiêm trọng nhất của mình sang các quốc gia đang phát triển thông qua các khoản đầu tư quyết liệt và các chiến dịch khai thác tài nguyên, đặc biệt trong các ngành khoáng sản thiết yếu và nguyên liệu thô. Hậu quả là sự tàn phá môi trường trên diện rộng, ô nhiễm độc hại và những tổn hại lâu dài đối với các hệ sinh thái mong manh trên khắp Đông Nam Á và nhiều khu vực khác.

Các ví dụ trải dài từ hoạt động khai thác niken tại Indonesia và khai thác đất hiếm ở Miến Điện đến các nhà máy thép và giấy trên khắp khu vực, cho thấy một mô hình khai thác mang tính bóc lột, hoàn toàn trái ngược với hình ảnh quản lý môi trường có trách nhiệm mà Trung Quốc vẫn tuyên bố.

Một thách thức về địa kinh tế và nhân đạo đang hình thành, kéo theo những hệ lụy đối với ổn định khu vực, sức khỏe cộng đồng và an ninh toàn cầu. Cộng đồng quốc tế cần xây dựng các giải pháp để ứng phó với việc Trung Quốc xuất khẩu các hoạt động gây hủy hoại môi trường.

Tranh giành các Khoáng sản Thiết yếu

Khi nhu cầu đối với xe điện (EV), công nghệ năng lượng tái tạo và thiết bị điện tử tiên tiến tăng mạnh, cuộc cạnh tranh nhằm giành quyền tiếp cận các kim loại dùng cho pin và các nguyên tố đất hiếm cũng ngày càng quyết liệt. Mặc dù đã là quốc gia dẫn đầu về chế biến, Trung Quốc vẫn không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động bằng cách chuyển những công đoạn bẩn nhất và gây ô nhiễm nhất trong chuỗi cung ứng được quảng bá là “xanh” của mình sang các quốc gia có hệ thống quản trị môi trường yếu kém, thực thi pháp luật lỏng lẻo hoặc đang xảy ra xung đột.

Sông Kok chảy qua tỉnh Chiang Mai sau khi đi vào Thái Lan từ Miến Điện, nơi hoạt động khai thác đất hiếm không được quản lý đã thải các hóa chất độc hại xuống dòng sông. REUTERS

Nhiều quốc gia nằm trong danh sách mục tiêu, như Indonesia, Lào và Miến Điện, đều có ý nghĩa quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc trong khuôn khổ sáng kiến mang tham vọng bá quyền “Một Vành đai, Một Con đường”. Bắc Kinh quảng bá các dự án cơ sở hạ tầng, nhà máy luyện kim và khu công nghiệp của mình là các khoản đầu tư hoặc viện trợ, nhưng động cơ thực sự là kiểm soát tài nguyên và tìm kiếm lợi nhuận, thường phải đánh đổi bằng sức khỏe của người dân địa phương, môi trường sinh thái và chủ quyền của các quốc gia sở tại.

Theo báo cáo của tổ chức phi lợi nhuận về an ninh toàn cầu C4ADS có trụ sở tại Hoa Kỳ công bố vào tháng 2 năm 2025, tại Indonesia — quốc gia sở hữu trữ lượng niken lớn nhất thế giới, các doanh nghiệp Trung Quốc, đặc biệt là Tsingshan Holding Group và Jiangsu Delong Nickel Industry Co., kiểm soát khoảng 75% công suất tinh luyện niken. 

C4ADS báo cáo: “Việc thiếu quyền kiểm soát trong nước khiến Indonesia phụ thuộc vào nguồn đầu tư của Trung Quốc và sự hỗ trợ liên tục đối với ngành công nghiệp này, điều có thể hạn chế khả năng của chính phủ trong việc buộc ngành phải chịu trách nhiệm và định hình lĩnh vực này vì lợi ích kinh tế của chính mình”.

Trong khi đó, tại các khu vực biên giới của Miến Điện, như bang Shan và Kachin, các công ty khai khoáng có liên hệ với nhà nước Trung Quốc đã tăng cường khai thác đất hiếm, thường hoạt động với rất ít hoặc hoàn toàn không có sự giám sát của cơ quan quản lý do cuộc nội chiến kéo dài, theo trang tin The Nation của Thái Lan. 

Mô hình mở rộng của Trung Quốc cho thấy một chiến lược có chủ đích: bảo đảm quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiết yếu với chi phí thấp và quy mô lớn, đồng thời chuyển gánh nặng về môi trường sang các quốc gia có năng lực quản lý yếu hơn hoặc dễ bị tổn thương hơn về chính trị.

Niken tại Indonesia: Cái giá của Pin

Niken là nguyên liệu thiết yếu để sản xuất thép không gỉ và pin cho EV. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cách thức ngành công nghiệp niken của Trung Quốc mở rộng tại Indonesia, đặc biệt thông qua các nhà máy luyện kim và cơ sở chế biến sử dụng điện từ than đá, đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường và xã hội.

Trung Quốc đã hỗ trợ quá trình mở rộng này thông qua các khoản tài trợ mang tính chi phối đối với Khu Công nghiệp Morowali Indonesia (IMIP) quy mô lớn trên đảo Sulawesi và các cụm nhà máy luyện kim khác trên đảo Halmahera. Nhiều cơ sở trong số này vận hành bằng các nhà máy nhiệt điện than phục vụ riêng, mặc dù sản phẩm của chúng lại được đưa vào các chuỗi cung ứng được quảng bá là phục vụ năng lượng sạch ở nước ngoài.

Theo tổ chức vận động Mighty Earth, IMIP dự kiến sẽ đạt công suất nhiệt điện than 5 gigawatt mỗi năm, gần tương đương tổng công suất điện than mà Mexico tạo ra hằng năm. Theo Mạng lưới Đoàn kết Châu Á-Thái Bình Dương, ngoài việc phát thải ở mức cao, các nhà máy nhiệt điện than này còn gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất đai, đe dọa sinh kế của người dân địa phương. 

Nạn phá rừng diễn ra trên diện rộng. Theo các tổ chức môi trường, trong đó có Greenpeace Indonesia, kể từ năm 2000, riêng khu vực Bắc Morowali đã có hơn 8.700 hécta rừng mưa nhiệt đới bị chặt phá để nhường chỗ cho các mỏ khai thác, nhà máy luyện kim và cơ sở hạ tầng. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên quy mô lớn này đã làm mất ổn định các hệ sinh thái địa phương, suy giảm tính toàn vẹn của các lưu vực sông và làm suy thoái môi trường sống của các loài sinh vật. Các nhóm này cho biết đất nông nghiệp và các nguồn nước thiết yếu đối với cộng đồng địa phương cũng đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Mô hình này không chỉ diễn ra ở Indonesia. Tại Papua New Guinea, các cuộc kiểm nghiệm tại một mỏ niken do doanh nghiệp Trung Quốc vận hành đã phát hiện tình trạng ô nhiễm có nhiều điểm tương đồng với Indonesia: hệ thống ngăn chặn ô nhiễm không đầy đủ, dòng nước thải độc hại đe dọa cộng đồng và hệ sinh thái, cùng hàm lượng kim loại nặng nguy hiểm, trong đó có crôm hóa trị sáu (hexavalent chromium), một chất gây ung thư. Theo một phân tích của Chính phủ Hoa Kỳ, nhiều chất gây ô nhiễm vượt xa các tiêu chuẩn an toàn, chứng tỏ các doanh nghiệp Trung Quốc đang tái diễn một cách có hệ thống những hoạt động gây hại tương tự trên khắp khu vực Thái Bình Dương.

Một công nhân giám sát việc xử lý xỉ từ một nhà máy chế biến quặng niken tại Nam Sulawesi, Indonesia, vào tháng 8 năm 2024. REUTERS

Ô nhiễm, Tử vong ở Người Lao động và Hệ lụy Xã hội

Tổn thất về môi trường đi kèm với những hệ lụy xã hội đáng báo động. Theo một báo cáo năm 2023 của nhóm vận động Trung tâm Nhân quyền và Kinh doanh có trụ sở tại London, các nhà máy luyện niken do Trung Quốc hậu thuẫn ở Indonesia thường xuyên bị cáo buộc gây ô nhiễm không khí và nước, ô nhiễm đất và mất đa dạng sinh học. Báo cáo “Phân tích năng lượng sạch: Tác động đối với quyền con người từ các khoản đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc vào các khoáng sản phục vụ quá trình chuyển đổi năng lượng” đã khảo sát 18 quốc gia, trong đó Cộng hòa Dân chủ Congo, Indonesia, Miến Điện, Peru và Zimbabwe ghi nhận số lượng cáo buộc cao nhất.

Đồng thời, điều kiện lao động tại Indonesia cũng nhiều lần bị chỉ trích là không an toàn và mang tính bóc lột. Trong giai đoạn 2015-2023, đã có hơn 90 người thiệt mạng và 100 người bị thương được ghi nhận tại các cơ sở chế biến ở nước này. Theo Mongabay, nền tảng tin tức về bảo tồn và khoa học môi trường, trong năm 2023, ít nhất 60 trường hợp tử vong hoặc tai nạn nghiêm trọng có liên quan đến các nhà máy luyện kim thuộc sở hữu của Trung Quốc, trong đó có vụ hỏa hoạn tại một cơ sở của Tsingshan khiến 21 người thiệt mạng và 38 người bị thương. 

Các tổ chức môi trường cho biết tình trạng ô nhiễm và nước thải đã làm suy giảm nghiêm trọng quần thể cá, hủy hoại sinh kế của những người phụ thuộc vào nghề cá và các nguồn tài nguyên biển.

Tham nhũng và việc thực thi pháp luật yếu kém là nguyên nhân sâu xa của nhiều hành vi vi phạm này. Theo một cuộc điều tra năm 2024 của China Global South Project, một tổ chức phi chính phủ, khoảng 1/3 trong số hơn 330 dự án khai thác và tinh chế niken ở Indonesia đã bị cáo buộc tham nhũng hoặc khai thác bất hợp pháp. 

Báo cáo nêu rõ: “Tham nhũng và tình trạng hủy hoại môi trường trong ngành công nghiệp niken của Indonesia đã trở nên gắn bó chặt chẽ với nhau: khi một công ty khai thác niken hoạt động trái phép, cộng đồng địa phương và môi trường sinh thái thường là những bên phải gánh chịu hậu quả. Việc Trung Quốc tài trợ trên diện rộng cho ngành công nghiệp niken của Indonesia dường như đã khiến nhiều người ngày càng dè dặt với các nhà đầu tư Trung Quốc và mối quan hệ của họ với các quan chức địa phương, bởi chính quyền địa phương từ lâu đã bị chỉ trích rộng rãi vì các hoạt động kinh doanh mang tính tham nhũng”.

Mặc dù báo cáo ghi nhận vai trò của Trung Quốc trong sự tăng trưởng của ngành khai thác niken tại Indonesia, quá trình mở rộng này cũng kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực. Những gì được quảng bá là đầu tư nước ngoài hoặc phát triển công nghiệp trên thực tế thường trở thành một hình thức chiếm đoạt tài nguyên, trong đó các biện pháp bảo vệ môi trường bị hy sinh để đổi lấy lợi nhuận và tốc độ phát triển.

Hoạt động Khai khoáng ở Miến Điện và cuộc Khủng hoảng Sông Mê Kông

Quyết tâm thống trị các nguồn tài nguyên đất hiếm của Trung Quốc đi đôi với việc sẵn sàng chuyển gánh nặng ô nhiễm môi trường sang các khu vực biên giới bất ổn.

Trước đây, Trung Quốc tiến hành phần lớn hoạt động khai thác đất hiếm trong lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, những lo ngại trong nước về môi trường và sức khỏe, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm đất và nước ngầm, đã khiến Bắc Kinh đóng cửa hàng trăm mỏ tư nhân quy mô nhỏ sau năm 2011, theo báo cáo đăng trên báo Le Monde của Pháp vào tháng 6 năm 2025.

Thay vì xử lý triệt để các ngành công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng trong nước, bao gồm luyện niken, khai thác đất hiếm và công nghiệp nặng, Trung Quốc bắt đầu chuyển các hoạt động này ra nước ngoài. Theo Le Monde, Bắc Kinh đang biến một vấn đề từng là của riêng mình thành cái gọi là một cơ hội phát triển ở nước ngoài. 

Theo công ty nghiên cứu thị trường Benchmark Mineral Intelligence có trụ sở tại London, chi phí sản xuất các nguyên tố đất hiếm nặng như dysprosi và tecbi — đều được sử dụng trong các hệ thống vũ khí tiên tiến, tại Miến Điện chỉ bằng 1/7 so với tại Trung Quốc. Để đáp ứng nhu cầu, Trung Quốc đã chuyển hoạt động khai thác sang nước láng giềng Miến Điện, đặc biệt là các khu vực chịu ảnh hưởng của xung đột tại bang Shan và Kachin. Các khu vực này, nằm dưới sự kiểm soát của các tổ chức vũ trang sắc tộc hoặc các tiền đồn quân sự hẻo lánh, có cơ chế giám sát lỏng lẻo và hầu như không có trách nhiệm giải trình. 

Theo Quỹ Nhân quyền Shan, hình ảnh vệ tinh cho thấy hoạt động khai thác đã bùng nổ, với các mỏ, mạng lưới đường sá và các hồ chứa chất thải cắt xẻ những sườn đồi vốn trước đây chưa bị tác động. Các mỏ này khai thác những nguyên tố đất hiếm quan trọng để xuất khẩu sang Trung Quốc.

Theo ông Zachary Abuza, giáo sư tại Trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia ở Washington, D.C., chỉ riêng trong năm 2025 đã có ít nhất 12 mỏ vàng và đất hiếm được thành lập ở khu vực phía nam bang Shan. 

Cuộc nội chiến ở Miến Điện đã kéo dài hơn năm năm, tạo ra một khu vực biên giới gần như vô pháp, chủ yếu nằm dưới sự kiểm soát của các nhóm vũ trang sắc tộc. Theo Zachary Abuza trả lời hãng tin Al Jazeera, các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động thông qua các mạng lưới phi chính thức, thường liên kết với chính quyền quân sự cũng như các lực lượng dân quân hoặc nhóm vũ trang địa phương, khiến việc quy trách nhiệm gần như không thể thực hiện được.

Ông nói: “Trong khoảng trống quyền lực này, hoạt động khai thác đã bùng nổ— và nhiều khả năng có sự tham gia của các thương nhân Trung Quốc. Chính quyền quân sự ở Naypyidaw (thủ đô của Miến Điện) không thể cấp phép hoặc thực thi các quy định về môi trường, nhưng họ vẫn nhận phần lợi nhuận của mình”.

Trong báo cáo công bố vào tháng 11 năm 2025, tổ chức nghiên cứu Trung tâm Stimson đã sử dụng hình ảnh vệ tinh để xác định 2.420 điểm khai thác mỏ không được quản lý trên các hệ thống sông lớn tại Campuchia, Lào và Miến Điện. Báo cáo nêu rõ: “Trong thập kỷ qua, sự bùng nổ của hoạt động khai thác mỏ không được quản lý đã đưa các chất gây ô nhiễm nguy hiểm như xyanua, thủy ngân, asen và nhiều kim loại nặng khác trực tiếp vào hàng chục con sông trên khắp khu vực Đông Nam Á lục địa”.

Ông Sai Hor Hseng, người phát ngôn của Quỹ Nhân quyền Shan có trụ sở tại bang Shan, miền đông Miến Điện, nói với Al Jazeera: “Kể từ khi hoạt động khai thác mỏ bắt đầu (ở Miến Điện), người dân địa phương không còn được bảo vệ”. Ông cho biết các công ty khai khoáng “không quan tâm điều gì sẽ xảy ra với môi trường”, cũng như với những người dân sinh sống ở hạ lưu thuộc Thái Lan.

Các cán bộ kiểm soát ô nhiễm của Thái Lan thu thập mẫu nước từ sông Kok vào tháng 11 năm 2025 để kiểm tra các chất ô nhiễm kim loại nặng, bao gồm asen. REUTERS

Ô nhiễm Xuyên Biên giới

Những thiệt hại về môi trường không chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Miến Điện. Nước thải độc hại, bao gồm các kim loại nặng và asen, đã làm ô nhiễm sông Kok và các phụ lưu của con sông này, vốn đổ vào sông Mê Kông, đe dọa nguồn nước, nghề cá và các cộng đồng nông nghiệp ở miền bắc Thái Lan, Lào và các khu vực hạ lưu xa hơn. 

Theo cổng thông tin CTN News của Thái Lan, trong tháng
8 năm 2025, nồng độ asen tại một số đoạn của sông Kok và các phụ lưu của sông Mê Kông cao gấp 40 lần mức được các cơ quan y tế xác định là an toàn. Theo báo Bangkok Post, người dân địa phương ghi nhận tình trạng cá bị dị tật và chết hàng loạt; nông dân lo ngại cây trồng sẽ hấp thụ các chất độc; người dân bị các bệnh về da sau khi tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm. Tất cả những hiện tượng này đều được “truy nguyên từ các hoạt động khai thác mỏ ở thượng nguồn” bên kia biên giới tại bang Shan. Nồng độ asen ở mức cao cũng đã được phát hiện tại sông Mê Kông.

Tình trạng ô nhiễm này có nguy cơ ảnh hưởng đến hàng chục triệu người trên khắp khu vực Đông Nam Á. Những tác động ở hạ lưu từ các hoạt động khai thác mỏ như vậy lan rộng vượt qua biên giới, làm ô nhiễm các dòng sông, đất nông nghiệp, ngư trường và cộng đồng dân cư tại các quốc gia láng giềng như Lào và Thái Lan. 

Bà Pianporn Deetes, Giám đốc các Chiến dịch Đông Nam Á của tổ chức International Rivers, nói với báo Bangkok Business rằng cuộc khủng hoảng ô nhiễm xuyên biên giới đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng triệu người dân ở tỉnh Chiang Rai, miền bắc Thái Lan. Họ đang phải đối mặt với những rủi ro đối với sinh kế và sức khỏe do ô nhiễm kim loại nặng, đặc biệt là asen, trong sông Kok, con sông chảy vào sông Mê Kông và sông Sai.

Bà Deetes cho biết: “Người dân địa phương không còn có thể duy trì các hoạt động truyền thống như đánh bắt cá hoặc kinh doanh thuyền du lịch, trong khi nông dân lo ngại rằng lúa được trồng bằng nước từ sông Kok có thể bị nhiễm asen, bởi cây lúa có xu hướng hấp thụ asen rất mạnh. Ngoài ra, cũng đã xuất hiện các báo cáo về cá nhiễm ký sinh trùng bất thường, điều có mối tương quan với việc hoạt động khai thác mỏ làm xáo trộn lớp đất”.

Ông Ben Hardman, Giám đốc pháp lý khu vực Mê Kông của tổ chức vận động EarthRights International, nói với Al Jazeera vào tháng 8 năm 2025 rằng người dân lo ngại bang Shan và các quốc gia láng giềng nơi các con sông của Miến Điện chảy qua sẽ phải đối mặt với số phận tương tự như bang Kachin, đặc biệt nếu số lượng các mỏ đất hiếm tiếp tục gia tăng để đáp ứng nhu cầu toàn cầu đang tăng.

Ông Hardman nói: “Khai thác đất hiếm từ lâu đã gây ra những tác động môi trường nghiêm trọng và kéo dài, đồng thời để lại những hệ lụy rất nặng nề đối với sức khỏe của các cộng đồng dân cư. Đó là những gì đã xảy ra ở Trung Quốc trong những năm 2010 và hiện cũng đang diễn ra tại bang Kachin. Và hiện nay, tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại bang Shan, vì vậy chúng ta có thể dự báo sẽ chứng kiến những tác hại tương tự”.

Mô hình này còn mở rộng trên phạm vi toàn cầu. Các cuộc kiểm nghiệm tại những cơ sở khai thác và tinh luyện do doanh nghiệp Trung Quốc vận hành trên khắp khu vực Thái Bình Dương, châu Phi, Mỹ Latinh và Caribe đều cho thấy những sai phạm có tính hệ thống giống nhau: lượng chất thải từ hoạt động khai mỏ ở mức đáng lo ngại, các biện pháp ngăn chặn ô nhiễm không đầy đủ và tình trạng ô nhiễm đe dọa nguồn nước cũng như các cộng đồng dân cư. Bất kể loại khoáng sản hay địa điểm nào, các doanh nghiệp Trung Quốc đều ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận từ khai thác hơn là bảo vệ môi trường, để lại cho các quốc gia sở tại gánh chịu chi phí do ô nhiễm và suy thoái sinh thái.

Sản xuất Thép và Giấy

Việc Trung Quốc tìm cách kiểm soát tài nguyên không chỉ dừng lại ở nguyên liệu thô. Thông qua các khoản đầu tư, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đưa hoạt động sản xuất thép, xây dựng nhà máy giấy và phát triển các đồn điền sang Đông Nam Á và nhiều khu vực khác trong Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời mang theo các công nghệ gây ô nhiễm nghiêm trọng, các tiêu chuẩn quản lý lỏng lẻo và tình trạng suy thoái môi trường.

Khi ngành công nghiệp nặng trong nước phải chịu áp lực ngày càng lớn, như các quy định nghiêm ngặt hơn, giới hạn mở rộng sản xuất và các mục tiêu cắt giảm phát thải carbon, nhiều doanh nghiệp sản xuất thép của Trung Quốc đã chuyển hoạt động sang Đông Nam Á và các khu vực khác. Theo báo cáo năm 2025 của tổ chức nghiên cứu Agora Industry có trụ sở tại Đức, tính đến năm 2023, Trung Quốc chiếm khoảng 80% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án mở rộng công suất sản xuất thép mới tại Đông Nam Á.

Agora báo cáo rằng phần lớn các nhà máy này vẫn sử dụng công nghệ lò đốt than thế hệ cũ, loại công nghệ tạo ra lượng khí thải độc hại, bụi mịn và ô nhiễm môi trường địa phương ở mức cao nhất. Hệ quả là lượng phát thải carbon trên toàn khu vực gia tăng, cùng với ô nhiễm không khí và nguồn nước tại địa phương, áp lực ngày càng lớn đối với các hệ sinh thái và sự suy giảm sức khỏe cộng đồng. Ngoài ra, theo trang tin SteelRadar, làn sóng thép giá rẻ của Trung Quốc tràn vào thị trường Đông Nam Á còn làm suy yếu các nhà sản xuất trong khu vực, khiến đầu tư vào các công nghệ sản xuất thép sạch hơn và thân thiện hơn với môi trường bị cản trở. Theo báo cáo năm 2026 trên trang Dhaka Tribune, các doanh nghiệp luyện kim được Trung Quốc hậu thuẫn tại Indonesia, trong đó có Tsingshan Holding Group và PT Obsidian Stainless Steel, có liên quan đến tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm hệ thống nguồn nước, suy giảm nguồn lợi thủy sản và nạn phá rừng.

Thế giới cũng đã chứng kiến những mô hình tương tự trong ngành công nghiệp bột giấy và giấy của Trung Quốc. Trong những thập kỷ gần đây, nhu cầu ngày càng tăng của Trung Quốc đối với gỗ và giấy đã thúc đẩy hoạt động trồng rừng nguyên liệu và khai thác gỗ trên quy mô lớn tại Đông Nam Á. Theo tổ chức nghiên cứu Wilson Center của Hoa Kỳ, các dự án nhượng quyền quy mô lớn để trồng rừng nguyên liệu giấy đã mở rộng trên khắp Campuchia, Lào, Miến Điện và Việt Nam, thường phải đánh đổi bằng rừng tự nhiên, đa dạng sinh học và quyền sử dụng đất của cộng đồng địa phương. Theo các nguồn tin báo chí, Sun Paper Group của Trung Quốc, chẳng hạn, trong thập kỷ qua đã vấp phải nhiều chỉ trích liên quan đến hoạt động của nhà máy giấy tại Lào do bị cáo buộc gây ô nhiễm nguồn nước, làm suy giảm chất lượng đất nông nghiệp và gây ô nhiễm các cộng đồng lân cận, khiến người dân mắc bệnh.

Các doanh nghiệp giấy có liên hệ với Trung Quốc thường thu mua bột giấy từ các đồn điền ở Đông Nam Á, qua đó chuyển gánh nặng suy thoái môi trường sang các quốc gia khác trong khi vẫn thu được lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu. Các cộng đồng bị di dời để nhường chỗ cho các đồn điền này mất quyền tiếp cận tài nguyên rừng; các hoạt động nông nghiệp truyền thống và sinh kế của họ cũng bị gián đoạn.

Mặc dù Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng ngành công nghiệp bột giấy và giấy trong nước theo hướng bền vững hơn, chuỗi cung ứng ở nước ngoài của nước này— nơi gỗ bị khai thác, các đồn điền tiếp tục được mở rộng và rừng bị tàn phá— vẫn là một mâu thuẫn rõ rệt với câu chuyện mà Bắc Kinh quảng bá về “ngành giấy xanh”.

Máy xúc chất các khoáng sản đất hiếm lên xe tải tại một mỏ ở tỉnh Vân Nam, tây nam Trung Quốc, năm 2008. Theo các chuyên gia, Trung Quốc đang xuất khẩu các hoạt động khai thác khoáng sản mang tính hủy hoại sang những quốc gia dễ bị tổn thương. REUTERS

Lãnh đạo Chiến lược và Đạo đức

Việc chi phối chuỗi cung ứng các khoáng sản và kim loại thiết yếu mang lại cho Trung Quốc lợi thế chiến lược đối với nhiều ngành công nghiệp, từ điện tử tiêu dùng đến quốc phòng. Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy rõ rằng Bắc Kinh đang sử dụng sức mạnh đó không phải để xây dựng một tương lai bền vững, mà để xuất khẩu sự hủy hoại môi trường sang một số cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trên thế giới, trong đó có nhiều cộng đồng ở Đông Nam Á.

Cộng đồng quốc tế, bao gồm các chính phủ, nhà đầu tư, các tổ chức đa phương và xã hội dân sự, cần phải đối mặt với thực tế này. Các nhà vận động cho rằng cần có tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và các tiêu chuẩn có thể thực thi để ngăn chặn tình trạng Trung Quốc trục lợi nhân danh năng lượng sạch. Nếu không, các nền kinh tế mới nổi sẽ phải gánh chịu những vùng đất bị ô nhiễm, các cộng đồng bị tàn phá và sự sụp đổ của hệ sinh thái, trong khi Trung Quốc tiếp tục hưởng lợi. Chỉ bằng cách đối mặt với những hành vi khai thác mang tính bóc lột này và buộc tất cả các bên liên quan phải chịu trách nhiệm thì mới có thể bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng cho khu vực.  


Việc Trung Quốc Xuất khẩu các Hoạt động Khai thác Mỏ Gây Hại làm Trầm trọng thêm Tình trạng Ô nhiễm trong Khu vực

Các khoản đầu tư quyết liệt và hoạt động khai thác tài nguyên của Trung Quốc, đặc biệt là khai thác khoáng sản đất hiếm, đang đẩy nhanh quá trình suy thoái môi trường trên khắp Đông Nam Á và nhiều khu vực khác.

Các Phụ lưu của Sông Mê Kông bị Đầu độc bởi Hoạt động Khai thác Mỏ Không được Quản lý do Trung Quốc Tiến hành

Sự bùng nổ của hoạt động khai thác mỏ không được quản lý trong thập kỷ qua đã thải asen, xyanua, thủy ngân và nhiều chất ô nhiễm khác vào các dòng sông trên khắp Đông Nam Á. Hình ảnh vệ tinh cho thấy có hơn 2.400 địa điểm khai thác hòa tách tại chỗ (in-situ leach, đối với đất hiếm), hòa tách đống (heap leach, đối với vàng, đồng, niken và mangan) và khai thác sa khoáng (alluvial mining, đối với vàng, bạc và thiếc) không được quản lý, nằm trên hoặc dọc theo 43 con sông tại Miến Điện, Lào và Campuchia. Gần 800 địa điểm trong số đó nằm dọc theo các phụ lưu của sông Mê Kông. Theo Benchmark Mineral Intelligence, Trung Quốc là động lực chính thúc đẩy sự gia tăng này, bởi chi phí sản xuất các nguyên tố đất hiếm như dysprosi và tecbi — đều được sử dụng trong các hệ thống vũ khí tiên tiến, tại Miến Điện chỉ bằng 1/7 so với tại Trung Quốc. Những khu vực chịu ảnh hưởng của cuộc nội chiến kéo dài ở Miến Điện, như bang Shan và Kachin, dường như đặc biệt dễ trở thành mục tiêu của hoạt động khai thác này.

Trường hợp Điển hình: Trung Quốc Khai thác các Nguồn Tài nguyên Chiến lược của Indonesia

Mạng lưới Khai thác Niken

Indonesia là quốc gia cung cấp quặng niken lớn nhất thế giới, đáp ứng khoảng một nửa nhu cầu toàn cầu trong năm 2023. Theo các quan chức chính phủ, các doanh nghiệp Trung Quốc sở hữu khoảng 90% các cơ sở chế biến niken của Indonesia, đồng thời Trung Quốc chiếm tới 70% tổng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp niken của nước này. Vai trò chi phối của Trung Quốc trong ngành công nghiệp niken của Indonesia đã góp phần làm gia tăng các hoạt động khai thác gây tổn hại đến cộng đồng địa phương và môi trường.

Các dự án Khai thác và Chế biến 

Hơn 350 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 1.825 nghìn tỷ đồng (70,2 tỷ đô la Mỹ )

Các cổ đông Trung Quốc nắm quyền kiểm soát ít nhất 75 trong số khoảng 350 dự án được nghiên cứu.

Hơn 1/3 số dự án bị cáo buộc hoặc có liên quan đến tham nhũng hoặc khai thác trái phép.

Ô nhiễm nguồn nước là mối quan ngại hàng đầu của người dân sống gần các mỏ và nhà máy chế biến niken.

Việc ngành công nghiệp niken sử dụng điện từ than đá có thể dẫn đến 5.000 ca tử vong mỗi năm vào năm 2030 do ô nhiễm không khí.

Nguồn: Báo cáo “Nickel Nexus” năm 2024 của China-Global South Project

Phá rừng tại Indonesia

Bên cạnh việc gây ô nhiễm do các hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, quá trình theo đuổi các khoáng sản thiết yếu còn làm gia tăng tốc độ phá rừng. Kể từ năm 2000, riêng tại khu vực Bắc Morowali trên đảo Sulawesi của Indonesia, hơn 8.700 hécta rừng mưa nhiệt đới đã bị chặt phá để nhường chỗ cho các mỏ khai thác, nhà máy luyện kim và cơ sở hạ tầng.


Đảo ngược Tình trạng Suy thoái Môi trường do Trung Quốc Gây ra

Việc Trung Quốc xuất khẩu các hoạt động khai thác khoáng sản gây hại có thể được hạn chế thông qua việc thực thi các tiêu chuẩn về môi trường và xã hội trên phạm vi quốc tế, cũng như tăng cường sự phối hợp giữa Hoa Kỳ với các Đồng minh và Đối tác.

Những biện pháp sau đây có thể giúp giảm thiểu thiệt hại đối với môi trường, hạn chế các tác động tiêu cực trong tương lai, kiềm chế các hoạt động gây hại của Trung Quốc và bảo vệ các cộng đồng cùng những vùng đất dễ bị tổn thương trước các hành vi lạm dụng liên quan đến nhu cầu toàn cầu đối với các khoáng sản thiết yếu.

Thúc đẩy các Chuỗi Cung ứng Thay thế và các Tiêu chuẩn Nghiêm ngặt

Nhiều quốc gia có thể đầu tư vào năng lực khai thác và chế biến trong nước, hoặc vào hoạt động tái chế các khoáng sản thiết yếu theo các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt hơn, qua đó giảm sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng do Trung Quốc chi phối.

Hỗ trợ các hoạt động khai thác và chế biến áp dụng những thông lệ tốt nhất, như việc thúc đẩy xử lý nước thải, quản lý chất thải có trách nhiệm và trồng lại rừng, thay vì duy trì mô hình chi phí thấp nhất nhưng gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất.

Tăng cường Năng lực Quản lý và Quản trị tại các Quốc gia Sở tại

Các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc và các ngân hàng phát triển cần cung cấp hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và thể chế nhằm tăng cường năng lực xây dựng quy định, giám sát và thực thi các quy định về môi trường tại các quốc gia đang phát triển.

Các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng địa phương và các cơ quan truyền thông cần được trao thêm quyền để giám sát, báo cáo và buộc các nhà đầu tư cũng như chính phủ phải chịu trách nhiệm giải trình.

Thúc đẩy tính Minh bạch của Chuỗi Cung ứng

Ứng dụng công nghệ, bao gồm giám sát bằng vệ tinh, truy xuất chuỗi cung ứng dựa trên công nghệ blockchain và viễn thám, nhằm phát hiện các hoạt động khai thác trái phép, phá rừng, ô nhiễm và quản lý chất thải không đúng quy định.

Công bố dữ liệu về quyền sở hữu, nguồn tài chính, các đánh giá tác động môi trường, các sự cố ô nhiễm và việc tuân thủ quy định để doanh nghiệp, cơ quan quản lý và công chúng biết rõ ai chịu trách nhiệm và trách nhiệm đó thuộc về đâu.

Tăng cường các Yêu cầu về Môi trường và Nhân quyền

Chính phủ, các tổ chức đa phương và các nhà đầu tư tại các quốc gia Đồng minh và Đối tác cần yêu cầu các doanh nghiệp khai thác nguồn khoáng sản hoặc nguyên liệu từ nước ngoài phải thực hiện quy trình thẩm định nghiêm ngặt về môi trường và xã hội, không chỉ đối với các mỏ và nhà máy luyện kim mà còn đối với các tác động trên toàn bộ chuỗi cung ứng và tình trạng ô nhiễm ở các khâu hạ nguồn.

Chính phủ các quốc gia sở tại cũng cần thực thi nghiêm các quy định về cấp phép, đánh giá tác động môi trường, tham vấn cộng đồng và bảo đảm tính minh bạch.

Gia tăng Sức ép Kinh tế 

Các quốc gia và khối thương mại cần ban hành các chính sách và quy định có tính đến tác động môi trường và nguồn cung ứng có trách nhiệm, bao gồm đối với EV, thiết bị điện tử và năng lượng tái tạo.

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của

0 Comments
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất

Những bài viết liên quan

Back to top button
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x