Sự Thèm khát Quyền lực

Sự Thèm khát Quyền lực

Liệu Dòng sông Mê Kông hùng vĩ có chịu đựng được những con đập siêu lớn của Trung Quốc hay không?

Nhân viên của DIỄN ĐÀN 

Đó là năm mà một căn bệnh truyền nhiễm chết người lây lan trên khắp một lục địa trước khi vượt qua ranh giới của các đại dương và biển cả. Một năm khi giá dầu sụt giảm và các cuộc biểu tình đòi quyền dân chủ nổ ra ở Hồng Kông khi thế giới một lần nữa cúi đầu tưởng nhớ các sinh viên và những người biểu tình khác đã bị thảm sát trong cuộc nổi dậy ở Quảng trường Thiên An Môn.

Đó là năm 2014 — một năm của những nỗi sợ hãi về đại dịch Ebola, nền kinh tế toàn cầu lủng củng và một Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) không mảy may động lòng.

Năm đầy khốn khó đó có những sự kiện ít được chú ý hơn. Các nhà khoa học đã công bố việc phát hiện ra 139 loài sinh vật mới ở khu vực sông Mê Kông Mở rộng của Đông Nam Á, trong đó có một loại ong tử thần (“dementor”) với cái vòi độc biến gián thành thây ma trước khi ăn tươi nuốt sống chúng.

Ở những nơi khác trên con sông Mê Kông hùng vĩ, dự án xây dựng đập Xayaburi ở Lào đã bước sang năm thứ hai, còn cách đó vài trăm kilomet xuôi theo dòng sông, các đội đã chuẩn bị để bắt tay vào xây dựng một đập thủy điện khác, Don Sahong, gần biên giới của Lào với Campuchia. 

Trong khi đó, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, các nhà lãnh đạo Campuchia, Lào, Thái Lan và nước chủ nhà đã nhóm họp trong hội nghị thượng đỉnh được tổ chức bốn năm một lần của Ủy hội sông Mê Kông (Mekong River Commission – MRC). Các quốc gia thành viên của ủy hội được giao nhiệm vụ lập biểu đồ về tính bền vững của con sông. Bối cảnh phía sau của hội nghị thượng đỉnh : Một loạt những con đập cực lớn được xây dựng bởi một Trung Quốc khát điện trong thập kỷ trước đó — và hàng chục dự án thủy điện khác đã được lên kế hoạch, nhiều dự án trong số đó được tài trợ và xây dựng bởi Trung Quốc — đe dọa dòng sông, khu vực và người dân nơi này.

Không có một sự thay đổi quyết liệt nào về đường lối hành động, một bài viết về hội nghị thượng đỉnh trên tạp chí trực tuyến The Diplomat cảnh báo: “Năm 2014 chắc chắn sẽ được ghi nhớ như một bước ngoặt bi thảm cho dòng sông quan trọng nhất của Đông Nam Á , và vì cái chết từ từ của ngành thủy sản và nông nghiệp trong khu vực”.

‘Mẹ của những Dòng chảy’ 

Bảy năm sau hội nghị thượng đỉnh MRC và một phần tư thế kỷ kể từ khi thành lập ủy hội liên chính phủ, tương lai của sông Mê Kông sẽ trôi chảy về đâu? Liệu “Mẹ của những Dòng chảy”, như được biết đến trong tiếng Thái, có còn là một nguồn cung cấp thực phẩm không thể thay thế, một suối nguồn của sự sống cho khu vực này hay không? Trước những thử thách do con người và thiên nhiên tạo ra, câu trả lời thật u ám.

Những lòng sông khô cạn dọc theo sông Mê Kông đã khiến các nhà bảo tồn và dân làng phẫn nộ về con đập Xayaburi mới đi vào hoạt động ở Lào vào tháng 10 năm 2019. Con sông này được mệnh danh là huyết mạch của khu vực. AFP/GETTY IMAGES

Các đập Xayaburi và Don Sahong bắt đầu đi vào hoạt động chỉ cách nhau vài tháng trong thời khắc chuyển giao từ năm 2019 sang năm 2020 và thế giới một lần nữa phải vật lộn với đại dịch, sự hoang mang về mặt kinh tế và những cuộc biểu tình chính trị. Theo MRC, 11 đập khác trên dòng chảy chính đang hoạt động dọc theo Lưu vực sông Mê Kông, tất cả đều nằm ở thượng nguồn sông Mê Kông ở Trung Quốc, nơi con sông này được gọi là Lancang. Tính đến giữa năm 2020, theo MRC báo cáo, Trung Quốc đã lên kế hoạch xây dựng thêm 11 đập nữa trên dòng chảy chính ở khu vực thượng nguồn sông Mê Kông, trong đó có một đập đang trong quá trình xây dựng. Ngoài Xayaburi và Don Sahong, chín con đập khác đã được lên kế hoạch trên dòng chảy chính dọc theo Lưu vực Hạ lưu sông Mê Kông, bao gồm bốn đề xuất đang được xem xét trong khuôn khổ của Quy trình Thông báo, Tham vấn Trước và Thỏa thuận của ủy hội. Quy trình đó áp dụng cho “dự án xây dựng thủy lợi và thủy điện quy mô lớn có thể gây ra tác động đáng kể đến môi trường, lưu lượng nước và chất lượng của dòng chảy chính của sông Mê mKông”. 

Theo nghiên cứu được công bố vào tháng 4 năm 2020 dựa trên các thiết bị đo chiều cao sông hàng ngày và dữ liệu vệ tinh thu thập được trong gần 30 năm, những ảnh hưởng cộng dồn của các dự án như thế lên con sông dài thứ 12 trên thế giới đã đến mức khủng khiếp. Các nhà nghiên cứu từ công ty tư vấn khí hậu Eyes on Earth và các Ứng dụng Vệ tinh Môi trường Toàn cầu đã phát triển một mô hình dự đoán để xác định “những con đập được xây dựng tầng tầng lớp lớp trên khu vực thượng lưu sông Mê Kông đang thay đổi dòng chảy tự nhiên của dòng sông như thế nào”.

Báo cáo do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hỗ trợ, “Giám sát Lượng Nước Chảy Qua Lưu vực Thượng lưu sông Mê Kông Trong các Điều kiện Tự nhiên (Không bị Cản trở) – Monitoring the Quantity of Water Flowing Through the Upper Mekong Basin Under Natural (Unimpeded) Conditions”, cho thấy rằng:  

Vào năm 2019, hạ lưu sông Mê Kông đã ghi nhận một số mực nước sông thấp nhất từ trước đến nay mặc dù dòng chảy tự nhiên từ thượng lưu sông Mê Kông ở mức trên trung bình.

“Tình trạng thiếu nước nghiêm trọng ở Hạ lưu sông Mê Kông … phần lớn là bị ảnh hưởng bởi việc hạn chế dòng chảy từ Thượng lưu sông Mê Kông”.

11 con đập siêu lớn của Trung Quốc dọc theo thượng nguồn sông Mê Kông có thể chứa gần 48 tỷ mét khối nước trong các hồ chứa của chúng. Các nhà nghiên cứu trình bày rằng: “Các đập mở rộng đáng kể năng lực về mặt thể chế trong việc điều chỉnh dòng chảy của sông, với các tác động tương ứng ở hạ lưu mà cần được giải quyết thông qua các giải pháp toàn diện”.

Đối với một số chuyên gia, báo cáo của Eyes on Earth minh chứng cho những mối lo ngại ngày càng gia tăng.

Ông Brian Eyler, nghiên cứu viên cấp cao kiêm giám đốc của chương trình Đông Nam Á tại tổ chức nghiên cứu Trung tâm Stimson, đã viết trong một bài báo vào tháng 4 năm 2020 cho tạp chí Foreign Policy: “Báo cáo đã soi rọi để người ta thấy rất rõ các con đập ở thượng nguồn đã giữ lại bao nhiêu nước— ngay cả khi các quốc gia thuộc khu vực hạ lưu phải hứng chịu tình trạng hạn hán chưa từng có”.

“Trong 10 đợt hạn hán lớn gần đây ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông, thì tám đợt đã xảy ra kể từ khi con đập đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu được xây dựng”, ông Eyler, tác giả của Những Ngày Cuối cùng của dòng sông Mê Kông Hùng Vỹ (The Last Days of the Mighty Mekong), cũng trong tháng đó đã viết trong một bài trên trang web của cơ quan nghiên cứu này.

Về cơ bản, như tiêu đề bài viết của Stimson đã nêu, Trung Quốc đã “tắt vòi nước” của sông Mê Kông, tước đoạt nguồn tài nguyên quý giá nhất của các quốc gia ven sông — và khiến các quốc gia có chủ quyền có nguy cơ rơi vào cảnh sức cùng lực kiệt.

Tràn trề Sức sống

Sông Mê Kông là huyết mạch đem đến sự sống cho khu vực. Hình thành từ những dòng suối nhỏ ở cao nguyên Tây Tạng, “nóc nhà của thế giới”, con sông dài hơn 4.300 kilomet chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam trước khi đổ ra Biển Đông. Trên hành trình của mình, sông Mê Kông thoát nước cho một khu vực lớn hơn cả Thái Lan và Lào cộng lại, đồng thời tiếp thêm nguồn cá và cây trồng mà đã duy trì cuộc sống của người dân trong khu vực trong hàng thiên niên kỷ qua.

Là ngư trường trên đất liền lớn nhất hành tinh, sông Mê Kông cung cấp 25% lượng cá nước ngọt của thế giới và là nơi sinh sống của hơn 1.000 loài sinh vật, từ cá heo Irrawaddy có nguy cơ tuyệt chủng đến cá trê khổng lồ nặng bằng một con gấu xám. Theo Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund – WWF), khu vực Mê Kông Mở rộng, được mệnh danh là “bát cơm” của châu Á, cung cấp sinh kế và nguồn dinh dưỡng cho khoảng 80% trong số 300 triệu dân sống ở khu vực này. Con sông tràn ngập sự đa dạng sinh học; từ năm 1997 đến năm 2014, trung bình cứ mỗi tuần các nhà nghiên cứu phát hiện ra khoảng ba loài sinh vật mới.

Với sự phát triển cơ sở hạ tầng ở mức độ chưa từng thấy, bao gồm cả các dự án thủy điện, dòng sông Mê Kông kỳ diệu, “một trong những nơi dễ bị tổn thương nhất trên Trái đất”, đang đối mặt với nhiều mối đe dọa, theo WWF báo cáo.

Một báo cáo năm 2010 do Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế biên soạn cho MRC chỉ ra rằng khoảng 80 con đập được lên kế hoạch dọc theo sông Mê Kông và các chi lưu của nó, bao gồm các dự án thủy điện trên dòng chảy chính, đến năm 2030 có thể tàn phá ngành thủy sản của khu vực. Sản lượng cá trong lưu vực sông có thể giảm hơn 40% so với các mức vào năm 2000, đe dọa đến nguồn dinh dưỡng và việc làm của hàng triệu người dân, đồng thời tăng nguy cơ mất an ninh lương thực.

Hiệp định Mê Kông, văn bản đã dẫn đến sự thành lập của MRC vào tháng 4 năm 1995, kêu gọi bốn quốc gia thành viên sáng lập hợp tác “theo cách xây dựng và cùng có lợi trong công tác phát triển bền vững, sử dụng, bảo tồn và quản lý nước ở Lưu vực sông Mê Kông và các nguồn tài nguyên liên quan”.

Theo ủy hội, những nỗ lực hợp tác để bảo vệ sông Mê Kông đã bắt đầu từ bốn thập kỷ trước đó khi mà các nhà nghiên cứu vẫn đang khám phá dòng sông “chưa bị chế ngự” trong khi cưỡi trên lưng voi “và có những dấu hiệu thể hiện sự quan tâm đến việc tận dụng tiềm năng kinh tế của nó”. Ủy ban Mê Kông với sự hậu thuẫn của Liên Hợp Quốc được thành lập với “những trách nhiệm về việc cấp quỹ, quản lý và duy trì nguồn tài nguyên nước”. Cuối cùng, ủy ban đã chuyển thành ủy hội.

Trong 25 năm đầu hoạt động, MRC đã thiết lập một danh sách gồm các mạng lưới cho việc đánh giá và chăm chút cho sức khỏe của sông Mê Kông, từ giám sát hạn hán và dự báo lũ lụt đến thu thập trầm tích và hướng dẫn quản lý thủy sản. Ủy ban cũng dựa vào quá trình tham vấn của mình để thúc đẩy sự hợp tác và hoạt động lập kế hoạch giữa các quốc gia thành viên và các bên trong khu vực nhằm giảm thiểu thiệt hại sinh thái và môi trường từ các dự án thủy điện.

Ngoài ra, vào năm 2019, MRC đã đạt được “một mức độ hợp tác mới” với các đối tác đối thoại ở vùng thượng lưu sông Mê Kông là Trung Quốc và Miến Điện, giám đốc điều hành của ủy hội, ông An Pich Hatda, đã viết trong báo cáo thường niên năm 2019 của tổ chức.

Đặc biệt khi xét đến nghiên cứu của Eyes on Earth, ông Eyler của Trung tâm Stimson là một trong những người xem MRC là đơn vị đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết những bất bình đẳng trong việc phân phối tài nguyên nước ở vùng hạ lưu sông Mê Kông do các đập trên thượng nguồn của Trung Quốc gây ra.

“Làm việc thông qua Ủy hội sông Mê Kông… để đạt được những mục tiêu này là hướng đi tốt nhất cho tương lai”, ông này đã viết.

Dùng Nước làm Vũ khí

Chế độ độc tài của Trung Quốc sẵn sàng đi xa đến mức nào trong việc giải quyết — chưa nói đến đảm bảo — quyền tiếp cận nguồn nước? Đó là một câu hỏi với những hậu quả có thể mang tính sống còn đối với các quốc gia ở khu vực hạ lưu sông Mê Kông. Các đập siêu lớn của Trung Quốc, xét cho cùng, là một thực tế không thể phủ nhận — những công trình khổng lồ bằng bê tông sẽ đổ bóng lên dòng sông trong nhiều thập kỷ, nếu không muốn nói là nhiều thế kỷ tới.

“Mặc dù sự hiện diện của các con đập của Trung Quốc không thể thay đổi, nhưng Trung Quốc có thể và nên thay đổi cách họ vận hành các con đập này”, ông Eyler viết.

Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng Trung Quốc sử dụng các dự án thủy điện của mình không chỉ để tích trữ nước và sản xuất điện cho dân số 1,4 tỷ người của nước mình mà còn như một con quân cờ thương lượng để mở rộng ảnh hưởng trong khu vực cho những mục đích riêng của mình. Quả thực, nước này đã sử dụng nước làm vũ khí.

Ông Eugene K. Chow đã viết trong một bài báo vào tháng 8 năm 2017 trên tạp chí The National Interest: “Mặc dù người ta đã chú ý nhiều đến phần cứng quân sự mới đáng sợ của quốc gia này, nhưng một thành phần đáng gờm trong kho vũ khí của họ hầu như ít được để mắt tới: các con đập”.

Hàng năm, lượng nước chảy từ Trung Quốc chiếm khoảng 16% tổng lưu lượng của sông Mê Kông, mặc dù con số đó có thể nhảy vọt lên đến 70% trong các đợt hạn hán.

“Thông qua khả năng kiểm soát dòng chảy huyết mạch của khu vực, Trung Quốc đã giành được sức mạnh cực kỳ khủng khiếp. Điều này đã dẫn đến những lời cáo buộc về sự bất lương”, ông Chow viết.

Đập Don Sahong trên hạ lưu sông Mê Kông ở Lào bắt đầu hoạt động vào đầu năm 2020. Nước láng giềng Campuchia nhập khẩu điện từ dự án thủy điện này.

Phản ứng của MRC trước viễn cảnh Trung Quốc tiến hành chiến tranh về nước không phải lúc nào cũng được xem là đủ quyết liệt. Thay vào đó, đôi khi, ủy hội có vẻ giống như một người đàn ông đi rón rén quanh nhà riêng của mình để không chọc tức một người khổng lồ nóng nảy sống ở tầng trên.

Nói có sách, mách có chứng: phản ứng thiếu quyết đoán của cơ quan này đối với nghiên cứu của Eyes on Earth.

Trong một bài bình luận vào tháng 4 năm 2020, ủy hội cho biết các nhà nghiên cứu đã “chưa cân nhắc một cách đầy đủ sự phức tạp của lượng mưa và dòng chảy” và rằng những phát hiện của họ “không nhất quán với các quan sát của MRC ở cấp
cơ sở”.

Viện dẫn “sự thiếu ổn định” trong việc nghiên cứu sử dụng dữ liệu vệ tinh, ủy hội cho biết phân tích ban đầu của họ “cho thấy đợt hạn hán vào năm 2019 trong lưu vực phần lớn là do lượng mưa không đủ trong mùa mưa với việc bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn của các cơn mưa chuyển mùa và hiện tượng El Nino đã tạo ra nhiệt độ cao hơn và lượng nước bốc hơi cao hơn ở mức bất thường.”  

Mặc dù thừa nhận rằng các con đập của Trung Quốc đã làm thay đổi dòng chảy nơi con sông chảy vào lưu vực hạ lưu sông Mê Kông, ủy hội đã nhận định rằng tình huống này “mang lại cả cơ hội lẫn thách thức”.

Họ đã đề xuất rằng cần phải có sự hợp tác nhiều hơn với Trung Quốc.

“Để tăng tính minh bạch của các hoạt động đập và thể hiện sự hợp tác một cách thiện chí, Trung Quốc nên cân nhắc việc cung cấp nhiều dữ liệu hơn”, MRC kết luận.

Giống như ủy hội, Trung Quốc đã chỉ tay đổ lỗi cho tác động ngoại cảnh. Mặc dù cũng “buồn phiền” bởi lượng mưa ít ỏi, Trung Quốc đã “vượt qua vô vàn khó khăn để tăng lượng nước xả của sông Lancang và giúp các nước dọc theo sông Mê Kông giảm bớt tác động của hạn hán”, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị (Wang Yi) tuyên bố vào tháng 2 năm 2020.

Theo một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Vương cho biết, “Trung Quốc cũng sẽ xem xét chia sẻ với các nước dọc theo sông Mê Kông thông tin thủy văn cho cảnăm nay”.

Đối với nhiều người, đây dường như lại là một lời hứa suông nữa của Trung Quốc.

Tìm ra Phương hướng cho Tương lai

Phản ứng dè dặt của MRC đối với nghiên cứu này có thể phản ánh một thực tế chính trị rộng hơn được các nhà quan sát trong khu vực nêu bật: Tiền của và uy lực của Trung Quốc đã bóp nghẹt những lời phàn nàn.

Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, một tổ chức nghiên cứu đặt tại Hoa Kỳ, vào tháng 4 năm 2020, tổng các khoản đầu tư và những dự án xây dựng của Trung Quốc ở Miến Điện, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã vượt 1 triệu 720 nghìn tỷ đồng (75 tỷ đô la Mỹ) trong khoảng từ năm 2010 đến năm 2019.

Trung tâm Stimson cho biết trong lĩnh vực năng lượng, Trung Quốc đã tham gia vào việc phát triển 18% các dự án hiện có, đã lên kế hoạch hoặc đang được xây dựng ở khu vực Mê Kông tính đến năm 2020.

“Nhờ vào khả năng kiểm soát cao nguyên Tây Tạng do vị trí địa lý của mình, Trung Quốc là vua của phần đồi cao trong các vấn đề về nước ở châu Á và các quốc gia ở khu vực hạ lưu gần như chẳng thể làm gì để thay đổi ý muốn thất thường của vị thống lĩnh độc đoán này”, ông Chow đã viết trên The National Interest.

Các yếu tố khác đã làm thui chột những nỗ lực nhằm đẩy lùi khả năng của Trung Quốc trong việc chặn dòng chảy của con sông xuống vùng hạ lưu. Khi từ chối trở thành thành viên ủy hội, trên thực tế, Trung Quốc đã “làm tê liệt” tổ chức này, theo ghi nhận của một bài bình luận vào tháng 6 năm 2018. được xuất bản bởi Viện Dịch vụ Thống nhất Hoàng gia, một tổ chức nghiên cứu về quốc phòng và an ninh có trụ sở tại Vương quốc Anh.

Hơn nữa, những bất đồng về biên giới và căng thẳng sắc tộc “tiếp tục đè nặng lên những mối quan hệ giữa các quốc gia ven sông ở vùng thấp hơn, thường gây ảnh hưởng đến các vấn đề trong khu vực và làm phức tạp những nỗ lực hợp tác về sông Mê Kông”, nhà bình luận Brijesh Khemlani, một nhà phân tích làm việc tại Bangkok về các vấn đề Đông Nam Á, đã viết.

Ông kêu gọi việc củng cố các cơ quan đa phương, bao gồm MRC và Sáng kiến Hạ nguồn Mê Kông (Lower Mekong Initiative – LMI) do Hoa Kỳ khởi xướng, để làm thành lũy chống lại Trung Quốc và gieo mầm cho sự phát triển bền vững.

“Phải có sự chống trả trước chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở Mê Kông”, ông Khemlani cảnh báo, “vì cứ để nguyên các vấn đề như hiện tại sẽ là một công thức dẫn đến thảm họa”.

LMI, một sự hợp tác giữa Miến Điện, Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và Hoa Kỳ, đã đánh dấu kỷ niệm 10 năm ngày thành lập vào năm 2019. Mục tiêu của dự án là “đem đến sự tăng trưởng kinh tế công bằng, bền vững và đem lại lợi ích cho tất cả” cho năm quốc gia đối tác thuộc vùng Mê Kông, đi theo cấu trúc gồm sáu trụ cột: môi trường và nước, y tế, nông nghiệp, tính kết nối, giáo dục và an ninh năng lượng.

Sáng kiến này được hỗ trợ bởi Friends of the Lower Mekong, một hiệp hội bao gồm Úc, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Ngân hàng Phát triển Châu Á và Ngân hàng Thế giới.

Tại một sự kiện kỷ niệm thập kỷ đầu tiên của LMI vào tháng 8 năm 2019, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lúc đó là ông Mike Pompeo đã ghi nhận những thành tựu của sự hợp tác nhưng cũng nêu bật “những xu hướng đáng lo ngại”.

Ông nói với các bộ trưởng của các quốc gia trong LMI: “Chúng ta thấy việc xây dựng ồ ạt các con đập ở thượng lưu, điều này thâu tóm sự kiểm soát đối với dòng chảy xuống vùng hạ lưu”. “Dòng sông đã ở mức thấp nhất trong một thập kỷ — một vấn đề liên quan đến quyết định của Trung Quốc về việc khóa nước ở thượng nguồn. Trung Quốc cũng có kế hoạch cho nổ mìn và nạo vét lòng sông. … Và chúng ta thấy có những nỗ lực nhằm thôi thúc việc soạn thảo những quy tắc mới dưới sự chỉ đạo của Bắc Kinh để chi phối dòng sông, từ đó làm suy yếu Ủy hội sông Mê Kông”.

Ông Pompeo đã công bố một loạt các dự án mới được thiết kế để bảo vệ con sông và khu vực, bao gồm:

Quan hệ đối tác về Điện ở Mê Kông Nhật Bản-Hoa Kỳ (Japan-U.S. Mekong Power Partnership – JUMPP) nhằm phát triển lưới điện bền vững trong khu vực và cơ sở hạ tầng chất lượng, với kinh phí ban đầu do Hoa Kỳ cấp là khoảng 679 tỷ đồng (29,5 triệu đô la Mỹ).

Khoản tài trợ trị giá khoảng 322 tỷ đồng (14 triệu đô la Mỹ) cho các quốc gia thuộc Mê Kông để đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia và buôn bán ma túy, bao gồm ngăn chặn hoạt động buôn bán ma túy đá trong khu vực Tam giác Vàng gồm các vùng của Miến Điện, Lào và Thái Lan. 

Một dự án của Hàn Quốc-Hoa Kỳ với mục tiêu sử dụng tốt hơn hình ảnh vệ tinh nhằm đánh giá các kiểu lũ lụt và hạn hán dọc theo sông Mê Kông.  

Một nền tảng chia sẻ dữ liệu nước và chương trình tác động cộng đồng của LMI.

Một hội nghị Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để tăng cường công tác quản trị những con sông chảy qua đường biên giới, bao gồm “một cách tiếp cận minh bạch, dựa trên luật lệ đối với sông Mê Kông”.

Ông Pompeo nói: “Chúng tôi sẽ tiếp tục giúp bảo vệ chủ quyền và an ninh của quý vị, giúp quý vị phát triển kinh tế và bảo vệ những nền văn hóa và môi trường đa dạng của quý vị”.

Nhu cầu Tăng vọt

Sự thịnh vượng tạo ra sự phát triển và theo đó là nỗi thèm khát năng lượng, thúc đẩy mong muốn khai thác các nguồn năng lượng tái tạo, chẳng hạn như thủy điện. Theo Hiệp hội Địa lý Quốc gia, con người đã sử dụng nước để tạo ra năng lượng trong hàng ngàn năm qua — ngày nay, thủy điện chiếm khoảng 70% lượng điện tái tạo được sản xuất trên toàn thế giới.

Khi công bố dự án JUMPP, LMI ghi nhận rằng nhu cầu điện ở các quốc gia thuộc vùng Mê Kông dự kiến sẽ tăng khoảng 6% mỗi năm. Nỗ lực của Hoa Kỳ-Nhật Bản sẽ hỗ trợ “dòng lưu chuyển thông suốt của các nguồn cung cấp năng lượng trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, một điều đóng vai trò then chốt đối với sự ổn định và phát triển của khu vực”.

Vào tháng 3 năm 2020, khi cả thế giới dồn tâm sức để chống chọi với đại dịch vi-rút corona, có một số tin tốt cho sông Mê Kông: Campuchia đã công bố lệnh hoãn có hiệu lực 10 năm đối với các hoạt động phát triển đập trên dòng chảy chính, bãi bỏ những kế hoạch cho hai dự án thủy điện đầu tiên của nước này. Hai tháng trước đó, lưới điện của Campuchia đã bắt đầu nhập khẩu điện từ Đập Don Sahong mới theo một thỏa thuận năng lượng kéo dài 30 năm với nước láng giềng Lào.

Tuy nhiên, các con đập mới vẫn mọc lên dọc theo dòng chảy chính của sông Mê Kông cũng như các nhánh sông, với hơn 370 dự án đã được lên kế hoạch, theo báo The Washington Post đưa tin vào tháng 1 năm 2020. Nhiều dự án trong số đó sẽ do các công ty Trung Quốc xây dựng trong khuôn khổ chương trình Một vành đai, Một con đường của nước này.

Con số này, ngay cả khi báo cáo thường niên của MRC vào tháng 6 năm 2020 đã cảnh báo về những rủi ro từ việc xây dựng và báo cáo rằng “hạn hán nghiêm trọng ở Lưu vực Hạ lưu sông Mê Kông đã gây ra những tổn thất kinh tế đáng kể do thiệt hại đối với cây trồng nông nghiệp, tác động tiêu cực đến môi trường và ảnh hưởng xấu đến sinh kế của người dân”.

Con số này, ngay cả khi Trung Quốc kìm hãm nguồn nước mà có thể làm dịu cơn khát của cả khu vực.

Vào tháng 4 năm 2022, các nhà lãnh đạo của bốn quốc gia thành viên MRC sẽ họp tại Lào trong hội nghị thượng đỉnh tiếp theo được tổ chức bốn năm một lần của ủy hội. Câu hỏi quan trọng hơn cả ngày xưa, cũng như ngày nay, và chắc chắn sẽ còn vào ngày sau: Tương lai của Dòng sông Mê Kông hùng vĩ sẽ chảy về đâu? 

Share