Thực hiện việc ngăn chặn trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Thực hiện việc ngăn chặn trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Làm giảm sự hung hăng của Trung Quốc thông qua các liên minh bền chặt giữa Úc, Hoa Kỳ và các quốc gia cùng chí hướng

Ashley Townshend và Tiến sĩ David Santoro

Trong một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng có nhiều căng thẳng, Úc, Hoa Kỳ cùng các đồng minh và đối tác trong khu vực này phải đối mặt với vô số thách thức chiến lược xuyên suốt ở mọi cấp độ trong không gian đầy tính cạnh tranh này. Xuất phát từ việc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) sử dụng sự cưỡng ép đa chiều để theo đuổi mục đích của mình là thay thế Hoa Kỳ và trở thành cường quốc chiếm vị thế vượt trội trong khu vực, một kỷ nguyên mới của sự cạnh tranh chiến lược đang được mở ra. Sự ổn định và đặc điểm về trật tự của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vốn đã được tạo lập dựa trên sức mạnh của Hoa Kỳ cùng với các quy tắc và chuẩn mực đã có từ lâu, hiện đang bị đe dọa. Tất cả những điều này đều ngày càng trở nên mơ hồ.

Những thách thức mà Bắc Kinh đặt ra cho khu vực diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tiến hành những việc này thông qua một chiến lược đòi hỏi sự tham gia của cả nước. Trong vùng xám giữa hòa bình và chiến tranh, các chiến thuật như cưỡng chế kinh tế, sự can thiệp của nước ngoài, sử dụng dân quân cùng với chiến tranh chính trị đã trở thành những công cụ mà Bắc Kinh lựa chọn để thực hiện việc thay đổi dần dần hiện trạng địa chiến lược. Những nỗ lực này càng được bồi thêm bởi sức mạnh của quân đội chính quy đang phát triển nhanh chóng của ĐCSTQ và sự bành trướng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tất cả những điều này đang diễn ra dưới cái bóng kéo dài của công cuộc hiện đại hóa hạt nhân mà Bắc Kinh đang triển khai và mong muốn của Trung Quốc là nhằm đạt được những lợi thế cạnh tranh mới trong các ngành công nghệ chiến lược đang lên.

Cân nhắc đến những thách thức này, việc tăng cường sự ngăn chặn, phòng thủ và chống lại sự cưỡng ép trong khu vực sẽ đòi hỏi Úc và Hoa Kỳ — làm việc độc lập, cùng nhau và với các đối tác cùng chí hướng của họ – phải xây dựng những chiến lược tích hợp lớn hơn cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và những cách thức mới để vận hành liên minh nhằm hỗ trợ cho các mục tiêu này. Cách tiếp cận này nhận được nhiều sự ủng hộ ở Canberra và Washington.

Tuy nhiên, việc tạo ra sự phối hợp lớn hơn về chiến lược ngăn chặn trong liên minh Hoa Kỳ-Úc không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Mặc dù Canberra và Washington có nhiều điểm chung trong các mục tiêu chiến lược, nhưng quan điểm của hai bên về quyền lợi và mối đe dọa liên quan đến Trung Quốc không hoàn toàn đối xứng. Mỗi bên có những năng lực, ưu tiên chính sách và mức độ chấp nhận khác nhau đối với chi phí và rủi ro. Các nỗ lực để vận hành hoạt động ngăn chặn phải được tiến hành từng bước và dựa trên đối thoại thẳng thắn trong liên minh.TĂNG CƯỜNG ĐÓNG GÓP
Úc và Hoa Kỳ cần tăng cường sự đóng góp của họ vào các hoạt động ngăn chặn và phòng thủ trong một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng có nhiều căng thẳng. Phát triển các cách tiếp cận tích hợp và kết hợp để ngăn chặn sự cưỡng chế vùng xám, chiến tranh chính trị, đòn bẩy kinh tế, các mối đe dọa quân sự và áp lực hạt nhân nên là ưu tiên hàng đầu của liên minh.

Các thành viên của Không quân Hoàng gia Úc, Không quân Hoa Kỳ và Lực lượng Tự vệ Không quân Nhật Bản tham gia vào một hoạt động mô phỏng dùng đạn thật trong Defender Pacific 20-1 tại Trung tâm Huấn luyện Khu vực Thái Bình Dương gần Căn cứ Không quân Andersen, Guam. TRUNG SỸ ZADE VADNAIS/LỰC LƯỢNG KHÔNG QUÂN HOA KỲ

Việc ĐCSTQ sẵn sàng cưỡng ép để giành được vị thế áp đảo trong khu vực đặt quốc gia này vào tình thế cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương mà muốn giữ gìn một trật tự chiến lược trong đó tất cả các quốc gia đều được tự do thực hiện chủ quyền của mình.

Sự ganh đua này diễn ra trong nhiều lĩnh vực. ĐCSTQ sử dụng các chiến dịch gây ảnh hưởng, hoạt động thao túng thông tin và các hình thức chiến tranh chính trị khác ở mức thấp; chiến thuật vùng xám, đòn bẩy kinh tế, tấn công trên mạng và cưỡng ép cấp nhà nước ở mức trung bình; và các mối đe dọa quân sự chính quy cũng như bóng gió về sự leo thang hạt nhân chiến lược ở mức cao. Cách tiếp cận cơ bản của nước này là kết hợp các véc-tơ của sự ép buộc để từng bước biến đổi hiện trạng địa chiến lược theo hướng có lợi cho mình.

Bất kỳ chiến lược hiệu quả nào của Úc hoặc Hoa Kỳ trong việc ngăn chặn sự ép buộc từ phía Trung Quốc đều phải hoạt động trên cùng một phạm vi cạnh tranh này. Không cho Trung Quốc khả năng đạt được hoặc sử dụng đòn bẩy cưỡng chế mà tốn ít tiền — bằng cách xây dựng khả năng phục hồi trong nước, tăng cường phòng thủ vật lý và lập pháp cũng như đưa ra các mối đe dọa đáng tin về năng lực ngăn chặn — là cách chắc chắn nhất để cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc lý do để tạm dừng. Tuy nhiên, điều này đặt ra những quyết định khó khăn cho các chính phủ về quyền lợi, ranh giới và mức độ sẵn sàng chấp nhận chi phí và rủi ro của họ.

Có một sự nhất trí sâu rộng rằng Canberra và Washington cần chấp nhận mức rủi ro lớn hơn và chủ động ngăn chặn sự cưỡng chế vùng xám của Trung Quốc. Điều này đòi hỏi phải hiểu rõ và dự đoán cách mà Bắc Kinh xây dựng tầm ảnh hưởng để có được đòn bẩy phi quân sự. Hai nước cũng cần sẵn sàng thực hiện các bước để trung hòa hoặc đảo ngược tình trạng đối kháng này. Để đảo ngược tình thế, các đồng minh có thể xem xét việc quy kết nhiều hơn các hành động vùng xám của ĐCSTQ, ban các lệnh cấm hoặc cáo buộc nhắm vào các tác nhân có dụng ý xấu và việc sử dụng các hoạt động đối kháng vùng xám.

Những người điều khiển của Vương quốc Anh và Úc điều hành một trung tâm hoạt động không gian ảo tại Trung tâm Đổi mới Lockheed Martin ở Suffolk, Virginia, trong Global Sentinel 19.
TRUNG SỸ J.T. ARMSTRONG/LỰC LƯỢNG KHÔNG QUÂN HOA KỲ

Việc duy trì cán cân quyền lực thuận lợi ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ ngày càng phụ thuộc vào khả năng của Hoa Kỳ và các đồng minh trong việc điều phối các lực lượng vũ trang chính quy xung quanh các mục tiêu ngăn chặn chung. Úc và Hoa Kỳ nên dần theo đuổi các mục tiêu ngăn chặn của cả hai bằng cách đồng phát triển các khái niệm chiến tranh, tăng cường phát triển và thử nghiệm công nghệ, cũng như thúc đẩy các mục tiêu về năng lực kết hợp, khả năng tương tác và vị thế về vũ lực.

Vẫn chưa rõ liệu cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc có nên được hiểu là một cuộc cạnh tranh giữa các phạm vi ảnh hưởng hay là một cuộc tìm kiếm cán cân quyền lực có lợi. Mặc dù có một sự đồng thuận ngày càng mạnh mẽ rằng, trái ngược với thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Washington sẽ không cấp cho Bắc Kinh quyền kiểm soát ưu đãi đối với vùng ngoại vi trực tiếp của mình, nhưng việc Trung Quốc thiết lập một phạm vi ảnh hưởng trên thực tế vẫn là một khả năng. Việc ngăn chặn kết quả này phải tiến hành theo những cách mà không làm tổn hại đến sức hấp dẫn của Hoa Kỳ trong khu vực rộng lớn hơn. Điều này là một nhiệm vụ trong sự ủng hộ lâu dài mà Hoa Kỳ dành cho sự ổn định, quy tắc, thể chế và trật tự.

NGĂN CHẶN VÀ BẢO VỆ CHỐNG LẠI SỰ CƯỠNG ÉP VÙNG XÁM

Sự cưỡng ép vùng xám của ĐCSTQ là một thực tế diễn ra hàng ngày trong sự cạnh tranh chiến lược ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Là một hình thức chiến tranh chính trị đương đại, cưỡng chế vùng xám có đặc trưng là việc Trung Quốc tiến hành dịch chuyển dần dần trong cán cân khu vực để tạo ra những lợi thế địa chiến lược qua thời gian. Tuy rằng các chiến thuật của Trung Quốc không có gì mới — nhìn chung bao gồm sự kết hợp của các hoạt động cưỡng ép phi quân sự, lũng đoạn và tạo ảnh hưởng ngầm — các kết nối đem đến sự biến đổi của quá trình toàn cầu hóa đã làm lộ ra những yếu điểm của nền dân chủ tự do, khuếch đại phạm vi và tác động của hành vi vùng xám. Điều này mang lại lợi ích không cân xứng cho các chế độ độc tài như ĐCSTQ, vốn hầu như không phải chịu sự kiềm chế của các ràng buộc pháp lý hoặc đạo đức, và có thể huy động tốt hơn các nguồn lực toàn quốc để khai thác các véc-tơ mới của sự cưỡng ép và tầm ảnh hưởng mà quá trình toàn cầu hóa đã mở ra.

Nhóm tấn công tàu sân bay Ronald Reagan và các đơn vị thuộc Lực lượng Tự vệ Hàng hải Nhật Bản và Lực lượng Quốc phòng Úc tham gia vào các cuộc tập trận ba bên nhằm hỗ trợ các mục tiêu chung về hòa bình, ổn định và một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở ở Biển Philippines vào tháng 7 năm 2020. HẠ SĨ QUAN BẬC 2 CODIE SOULE/HẢI QUÂN HOA KỲ

Tuy nhiên, liên quan đến việc chống lại sự cưỡng ép vùng xám, không có sự đồng thuận về việc có nên hay không hoặc đâu là cách là tốt nhất để áp dụng một khuôn khổ cho hoạt động ngăn chặn. Nhiều người tranh luận rằng bản chất biến ảo khôn lường, dai dẳng và xuyên suốt của các hoạt động của ĐCSTQ khiến việc giảm rủi ro và xây dựng khả năng phục hồi là những cách tiếp cận thích hợp hơn hoạt động ngăn chặn hoặc phòng vệ. Những người khác lại cho rằng hoạt động ngăn chặn bằng cách khắc chế là một khuôn khổ hữu ích cho việc phát triển các chiến lược chống lại các loại cưỡng ép vùng xám khác nhau. Lối tư duy khắc chế không chỉ kết hợp các nỗ lực nhằm tăng cường phòng thủ bằng cách giảm thiểu rủi ro và xây dựng khả năng phục hồi, nó còn cung cấp một cơ sở chiến lược mà theo đó Hoa Kỳ và Úc có thể làm việc để ngăn chặn hoạt động cưỡng ép vùng xám — hoặc các hình thức nghiêm trọng hơn — bằng cách đe dọa là sẽ phản ứng hoặc áp đặt những phí tổn theo cách định trước.

Mặc dù có những trường phái tư tưởng khác nhau này, nhưng cũng có sự đồng thuận rộng rãi rằng Canberra và Washington cần tập trung vào những điều sau đây để ngăn chặn sự cưỡng ép vùng xám: Sẵn sàng chấp nhận chi phí và rủi ro; chủ động hơn; củng cố cách tiếp cận toàn xã hội; và phát triển một cách tiếp cận có sự tham gia của đồng minh cùng với các nhân tố khác trong khu vực.

Ngăn chặn các hoạt động cưỡng ép vùng xám của Trung Quốc sẽ dẫn đến những chi phí và rủi ro chính trị mà Úc và Hoa Kỳ phải sẵn sàng chịu và duy trì. Các biện pháp tăng cường khả năng phục hồi trong nước — chẳng hạn như các bộ luật mà hình sự hóa sự can thiệp ngầm của nước ngoài, sàng lọc đầu tư trực tiếp của nước ngoài và các nỗ lực để giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc — có thể tốn kém về tài chính và khó khăn về chính trị trong ngắn hạn, và cần có một quá trình lập pháp, điều tiết và nâng cao nhận thức của công chúng. Quá trình này rất có thể bị Bắc Kinh khai thác để kích động các phe cánh đối lập. Các biện pháp để nêu đích danh những hành động của Trung Quốc và/hoặc áp đặt phí tổn— chẳng hạn như quy tội các cuộc tấn công mạng, thực thi các lệnh trừng phạt hoặc áp dụng các chiến thuật chống lại vùng xám — thậm chí sẽ còn mạo hiểm hơn cho các chính phủ. Xác định rõ các lợi ích cốt lõi, ranh giới và các lộ trình hành động ưu tiên từ trước sẽ giúp Úc và Hoa Kỳ trong việc chuẩn bị cho những gánh nặng không thể tránh khỏi này. Những nỗ lực này phải đi kèm với các cuộc đối thoại công khai thẳng thắn và báo hiệu để tăng cường hỗ trợ trong nước. Tính chính danh là lợi thế quan trọng nhất mà các nền dân chủ nắm giữ so với các hệ thống độc tài, vì vậy Úc và Hoa Kỳ phải đảm bảo rằng các chiến lược chống lại vùng xám bắt nguồn từ các chuẩn mực tự do và, ở mức tối thiểu, không làm tổn hại đến không gian dân chủ — chẳng hạn như truyền thông, xã hội dân sự và các tổ chức chính trị — nơi chiến tranh chính trị thường diễn ra.

Hoa Kỳ và Úc cũng cần phải có một lập trường chủ động hơn để cho phép họ chủ động ngăn chặn hoạt động cưỡng ép vùng xám của Trung Quốc. Cho đến gần đây, cả hai quốc gia này đã quá tập trung vào việc chống lại vấn đề vùng xám bằng cách phản ứng với các hành động sau khi sự đã rồi. Điều này giúp Bắc Kinh có đà và buộc Canberra và Washington vào tư thế phản ứng bị động mà không được trang bị đầy đủ để đối phó với bản chất liên tục biến đổi của thách thức này. Chuyển sang một lập trường chủ động hơn đòi hỏi Hoa Kỳ và Úc phải hiểu rõ và dự đoán cách Bắc Kinh xây dựng tầm ảnh hưởng để có được những lợi thế phi quân sự. Hai nước cũng cần sẵn sàng thực hiện các bước cụ thể để trung hòa hoặc đảo ngược tình trạng đối kháng này. Quyết định cấm Huawei khỏi mạng 5G của Úc là một ví dụ về cách mà các quốc gia có thể trung hòa mối đe dọa vùng xám bằng cách ngăn chặn trước. Đảo ngược tình trạng đối kháng này sang thế bất lợi cho Trung Quốc đòi hỏi việc chuyển gánh nặng leo thang trở lại cho Bắc Kinh bằng cách tăng phí tổn và rủi ro của các hoạt động không ai ưa của Trung Quốc.

Một cách tiếp cận chặt chẽ có sự tham gia của toàn bộ chính phủ đóng vai trò tối quan trọng trong việc ngăn chặn và chống lại sự ép buộc của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc này có khả năng sẽ cần được mở rộng sang một cách tiếp cận toàn xã hội để đạt được hiệu quả, xét đến tính dễ bị tổn thương và các năng lực của khu vực phi chính phủ. Cả hai chiến lược đều khó khăn đối với các nền dân chủ tự do. Chiến lược sau đặt ra những thách thức đặc biệt gai góc cho mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Úc đã thành công trong việc triển khai phương pháp tiếp cận có sự tham gia của toàn bộ chính phủ, bao gồm cải cách các quy trình ra quyết định của Hội đồng Đánh giá Đầu tư Nước ngoài để tính đến các cân nhắc về an ninh quốc gia và sự phối hợp giữa các ban ngành về hoạt động cấp vốn cho cơ sở hạ tầng ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Mặc dù có những nỗ lực nhằm kết nối các liên minh toàn xã hội — ví dụ, bằng cách thúc đẩy sự phối hợp giữa các trường đại học và cộng đồng tình báo về sự can thiệp của nước ngoài — việc này sẽ đòi hỏi nỗ lực lâu dài, các quy định mới và việc chia sẻ thông tin tốt hơn.

Cuối cùng, Úc và Hoa Kỳ cần hiểu những lợi ích chung nào đang bị đe dọa và theo đuổi năng lực ngăn chặn mạnh hơn bằng cách sử dụng tất cả các đòn bẩy của sức mạnh quốc gia trong khuôn khổ liên minh. Điều này sẽ cần một nỗ lực với quyết tâm cao độ. Lợi ích của Úc và Hoa Kỳ không hoàn toàn đồng nhất trong tất cả các khía cạnh và quan điểm của hai đồng minh về bản chất, mức độ nghiêm trọng và hệ quả từ các hoạt động vùng xám của Trung Quốc thường có những khác biệt rất quan trọng. Cơ chế phối hợp liên minh song phương mới ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương sẽ hữu ích trong việc xử lý những khác biệt này và tập trung hành động tập thể vào các mục tiêu chung. Nói rộng hơn, những lợi ích, giá trị chung và cam kết của cả hai bên đối với tinh thần thượng tôn pháp luật nên củng cố cách thức mà liên minh Hoa Kỳ-Úc được vận hành với các đối tác cùng chí hướng khác ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Điều này có nghĩa là các nỗ lực để thu hút sự tham gia của các quốc gia trong khu vực cần phải đi xa hơn chỉ đơn giản là chống lại sức ép của Trung Quốc nếu Canberra và Washington muốn giữ vững vị thế của họ như là các đối tác an ninh được các quốc gia khác lựa chọn.

CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGĂN CHẶN HẠT NHÂN VÀ NGĂN CHẶN CHIẾN LƯỢC

Ngay cả khi Trung Quốc đẩy mạnh sự cạnh tranh với Hoa Kỳ và các đồng minh trên một phạm vi xung đột, quốc gia này xem các loại vũ khí hạt nhân là nhân tố quan trọng phủ bóng lên các hoạt động của mình, thay vì chỉ là một công cụ để răn đe hoặc chấm dứt xung đột. Chiến lược của Trung Quốc đã mang lại kết quả: Washington và các đồng minh không còn có những lợi thế rõ rệt mà họ đã từng được hưởng. Nếu xu hướng này tiếp tục, Hoa Kỳ và các đồng minh sẽ có khả năng tách rời.

Bởi vì họ đang ở tuyến đầu chống chọi với sức ép từ Trung Quốc (cùng với Nga và Bắc Triều Tiên), các đồng minh của Hoa Kỳ đang thúc đẩy việc xây dựng các yêu cầu ngăn chặn mới. Các đồng minh ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là những bên lên tiếng mạnh mẽ nhất. Nhật Bản, về phần mình thì kiên quyết rằng Washington không nên chấp nhận điểm yếu chung như là cơ sở của mối quan hệ chiến lược Mỹ-Trung vì sợ rằng điều này có thể khuyến khích Bắc Kinh càng gây hấn hơn với Tokyo. Nhật Bản cũng đã chọn cách trở thành một đồng minh chủ động hơn trong hoạt động ngăn chặn do Hoa Kỳ khởi xướng. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều đã hối thúc Hoa Kỳ đưa ra một cam kết phòng thủ giống NATO hơn ở khu vực Đông Bắc Á, ngay cả khi Washington đã tăng cường đáng kể các cuộc đối thoại và hoạt động ngăn chặn mở rộng cùng với Tokyo và Seoul để mang lại cho họ cảm giác được phân quyền lớn hơn. Người Úc cũng đã bắt đầu suy nghĩ lại về việc Canberra có nên hay không và làm cách nào để tăng sự đóng góp của mình vào hoạt động ngăn chặn chiến lược. Việc trao đổi thông tin có trật tự, minh bạch và có chủ ý của Bộ Chỉ huy Chiến lược Hoa Kỳ đã đạt được bước tiến dài hướng tới việc xây dựng mức độ hiện tại trong hợp tác an ninh và ngăn chặn giữa Hoa Kỳ và Úc.

Các đồng minh của Hoa Kỳ đã đưa ra những yêu cầu ngăn chặn và nội dung thảo luận của họ trong khuôn khổ của các liên minh, thay vì làm những việc này ở bên ngoài, hoặc đối lập với, những thỏa thuận lâu dài này. Đây là một minh chứng cho cách họ nhìn nhận mối quan hệ của họ với Washington và một biểu hiện của thực tế là Hoa Kỳ vẫn có vai trò tối quan trọng đối với công tác phòng thủ của họ.

Tuy rằng có nhiều quan điểm và sự bất đồng khác nhau về cách tốt nhất để phản ứng với các khái niệm và năng lực mới mà Trung Quốc phát triển, có sự đồng thuận ở Canberra và Washington rằng một nỗ lực đầy tham vọng về mặt trí thức là cần thiết để suy ngẫm sâu sắc hơn về các vấn đề này trong bối cảnh liên minh và xây dựng các phản ứng tập thể hiệu quả. Điều này cần có sự phân tích kết hợp, chuyên sâu và có hệ thống hơn về các chiến lược chiến tranh và lý thuyết chiến thắng liên tục biến đổi của những đối thủ cạnh tranh.

TỐI ƯU HÓA LIÊN MINH CHO HOẠT ĐỘNG NGĂN CHẶN TẬP THỂ VÀ QUỐC PHÒNG

Có một sự đồng thuận rộng rãi giữa Canberra và Washington rằng liên minh Hoa Kỳ-Úc cần phải tăng cường sự đóng góp của mình vào hoạt động ngăn chặn và quốc phòng tập thể trong một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng có nhiều căng thẳng. Bộ trưởng Quốc phòng Úc Linda Reynolds tóm lược quan điểm này trong một bài phát biểu tại Washington vào tháng 11 năm 2019 khi bà quan sát thấy rằng “ngăn chặn là trách nhiệm chung cho một mục đích chung, một mục đích mà không quốc gia nào, ngay cả Hoa Kỳ, có thể đảm nhận một mình. ” Tuy nhiên, việc thực hiện mục tiêu này sẽ là một thách thức lâu dài vì không có sự đồng thuận về mức độ liên kết cần thiết cho hoạt động ngăn chặn hay những gì là khả thi về mặt chính trị ở mỗi quốc gia.

Một số ý kiến cho rằng sẽ cần có sự chuyển dịch sang tổng hợp năng lực và lập kế hoạch chính sách tích hợp cho các mục tiêu ngăn chặn cụ thể để ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc, và điều này sẽ, qua thời gian, thu hút các đối tác an ninh thân cận khác như Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản và Singapore. Những người khác đồng ý rằng sự liên kết kiểu này phát đi một tín hiệu ngăn chặn mạnh mẽ, nhưng cho rằng sự liên kết đó sẽ gặp vô số trở ngại về mặt pháp lý, hoạt động và hành chính. Điều quan trọng là, nó sẽ phụ thuộc một cách cơ bản vào khả năng của Washington và Canberra trong việc thiết lập những quan điểm chung về các câu hỏi gai góc liên quan đến nức độ chấp nhận rủi ro và leo thang quân sự của ĐCSTQ. Vì không chính phủ của bên nào muốn bị mắc kẹt trong những quyết định như vậy, cả hai bên sẽ phải tiếp cận mục tiêu ngăn chặn tập thể từng bước bằng cách tuân theo những nguyên tắc chỉ đạo của sự hợp tác, phối hợp và khả năng tương tác lớn hơn.

Bất kỳ bước nào trong việc tăng cường sự ngăn chặn và phòng thủ tập thể trong phạm vi xung đột cấp cao sẽ buộc Hoa Kỳ phải thấu hiểu kế hoạch quân sự của Úc ở giai đoạn sớm hơn nhiều so với khả năng của Hoa Kỳ hiện nay. Đây không hề là một nhiệm vụ dễ dàng. Tuy có sự tập trung vào các đồng minh trong Chiến lược Quốc phòng Hoa Kỳ 2018, loại hình tích hợp này mâu thuẫn với ưu tiên truyền thống của Lầu Năm Góc trong việc bảo vệ một lực lượng chung, tự lực, và hoạt động trên cơ sở các kế hoạch độc lập. Việc đó đòi hỏi sự tin tưởng ngoại giao ở mức độ rất cao, lòng tin sâu sắc vào sự ủng hộ của Canberra cũng như ý chí chính trị để giao phó cho Úc các vai trò có quyền lực chủ chốt, nếu không muốn nói là tiến hành chiến tranh. Đồng thời, việc đó cũng sẽ phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của Canberra trong việc nâng cao sự tham gia của mình vào kế hoạch quân sự của Hoa Kỳ lên cấp độ hoạt động, ít nhất là xung quanh một số trường hợp bất trắc đã được xác định trước.

Các động thái nhằm tăng cường sự đóng góp của liên minh vào hoạt động ngăn chặn phải bao gồm một cuộc thảo luận về việc phân chia lao động thích hợp giữa Hoa Kỳ, Úc và các đối tác an ninh khác. Điều này đòi hỏi các quyết định rõ ràng về vai trò và trách nhiệm cũng như sự hiểu biết chung về các điều kiện mà theo đó các đồng minh khác nhau sẽ tham gia vào những nhiệm vụ và tình huống bất ngờ cụ thể. Mặc dù tất cả các điều này đều đóng vai trò trung tâm trong mức độ đáng tin của các cam kết liên minh nhằm thực thi những ranh giới chung, không có vấn đề nào trong số này đã nhận được sự chú trọng đúng mức từ phía các lãnh đạo trong liên minh Hoa Kỳ-Úc. Điều quan trọng là, bởi vì các quyết định về cách phân chia lao động chiến lược có những hệ quả lớn đối với cơ cấu lực lượng và các ưu tiên đầu tư nên chúng phải được xem xét từ trước.

Một trong những cách hứa hẹn nhất để tối ưu hóa liên minh Hoa Kỳ-Úc cho hoạt động ngăn chặn tập thể là tăng cường khả năng tương tác quân sự và sự hợp tác trong ngành công nghiệp quốc phòng. Cả hai đồng minh đều sẽ được lợi khi nới lỏng các rào cản của Hoa Kỳ đối với việc chuyển giao phần mềm để cho phép các nền tảng của Úc sử dụng các hệ thống quân sự tương tự như các lực lượng của Hoa Kỳ. Việc này sẽ đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả trên chiến trường. Cụ thể hơn, Quốc hội và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phải thực hiện các bước để loại bỏ các hạn chế thực tiễn, pháp lý và cấp phép xung quanh việc chia sẻ công nghệ và thực hành việc chuyển giao công nghệ của Hoa Kỳ cho các đồng minh và đối tác. Những trở ngại như vậy kiềm chế sự kết hợp trọn vẹn của Úc vào cơ sở công nghệ và công nghiệp quốc gia, hạn chế khả năng của cả hai nước trong việc tận dụng các ngành công nghệ tiên tiến của nhau. Để xây dựng các hiệp đồng liên minh cho các tình huống cấp cao trong tương lai, Canberra và Washington nên ưu tiên việc đồng phát triển các khái niệm mới, chỉ đạo việc thử nghiệm công nghệ và tổ chức các cuộc thảo luận sâu về phát triển năng lực, khả năng tương tác và vị thế trong khu vực.

Trong việc đàm phán tất cả các vấn đề trên, Úc nên là một đồng minh thẳng thắn và không ngần ngại đưa ra các vấn đề quan trọng về hướng đi của liên minh hoặc môi trường chiến lược trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đặc biệt là trong giai đoạn bất ổn về chính trị, Hoa Kỳ sẽ hoan nghênh vai trò lãnh đạo lớn hơn từ các đồng minh như Úc. 

Trong phân tích cuối cùng, việc cản trở sự thiết lập một phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ đòi hỏi Úc, Hoa Kỳ cũng như các đồng minh và đối tác khác phải tăng cường sự cam kết của họ trong việc bảo vệ trật tự khu vực, đồng thời chấp nhận rằng họ sẽ không còn được hưởng vị thế áp đảo về mặt quân sự trên tất cả các lĩnh vực.  

DIỄN ĐÀN đã trích đoạn và biên tập bài viết này từ một báo cáo vào tháng 4 năm 2020 có tiêu đề “Thực hiện việc ngăn chặn ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” được viết bởi Ashley Townshend và Tiến sĩ David Santoro. Báo cáo của họ là một ấn phẩm chung của Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ và Diễn đàn Thái Bình Dương. Để đọc toàn bộ báo cáo gốc, hãy truy cập: =Https://www.ussc.edu.au/analysis/operationalising-deterrence-in-the-indo-pacific

Share